EYE
11/04/2017
Serie biểu tượng và ý nghĩa
Thuyết Âm Dương
I) Trong truyền thống Châu Á như Việt Nam và Trung Quốc lẫn các nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Triều Tiên v.v... chúng ta luôn thấy hình ảnh của âm và Dương (Yin, Yang) đặc biệt là với Việt Nam và Trung Quốc. Những tấm gương bát quái mà ở giữa là biểu tượng âm dương đồ xung quanh là 8 biểu tượng của kinh dịch gọi là Bát Quái, vậy âm Dương có ý nghĩa ra sao?
Kỳ thực từ lâu trước khi có biểu tượng âm Dương ra đời, từ nhiều nền văn hóa khác nhau, từ Phương Đông cho đến Phương Tây, rồi cho đến những quốc gia thuộc Ả Rập đã ra đời những lý thuyết sâu sắc về âm Dương và tất cả cùng thống nhât một quan điểm rằng khi một điều này hay một thứ này được sinh ra sẽ có một thứ đối lập lại theo đó được sinh ra. Và điều tưởng chừng như đơn giản này lại mang một ý nghĩa rất sâu xa để giải thích về sự hình thành của tạo hóa, diễn biến thăng trầm của cuộc sống, diễn biến trong ý thức tâm lý của con người v..v.. âm Dương còn đi sâu vào những ngành về triết học, giả kim, tôn giáo hay thậm chí cả khoa học.
Về khoa học:
Gần đây nhất ứng dụng của lý thuyết âm Dương lại chính là tiền đề của công nghệ phản vật chất ngày nay, đây là một công nghệ ít ai biết nhưng lại là một đề tài nóng trong giới khoa học, và thậm chí đã có nhiều nhà khoa học chứng minh được sự tồn tại của “Phản vật chất” và là một trong những công nghệ hứa hẹn của tương lai.
Điều thú vị nhất đó là từ trong trí tưởng tượng, phản vật chất trở thành hiện thực, và mang tính thuyết phục. Năm 1928, nhà vật lý người Anh Paul Dirac đã đặt ra một vấn đề: làm sao để kết hợp các định luật trong thuyết lượng tử vào trong thuyết tương đối đặc biệt của Albert Einstein. Thông qua các bước tính toán phức tạp, Dirac đã vạch định ra hướng để tổng quát hóa hai thuyết hoàn toàn riêng rẽ này. Ông đã giải thích việc làm sao mọi vật càng nhỏ thì vận tốc càng lớn; trong trường hợp đó, các electron có vận tốc gần bằng vận tốc ánh sáng. Đó là một thành công đáng kể, nhưng Dirac không chỉ dừng lại ở đó, ông nhận ra rằng các bước tính toán của ông vẫn hợp lệ nếu electron vừa có thể có điện tích âm, vừa có thể có điện tích dương - đây là một kết quả ngoài tầm mong đợi.
Dirac biện luận rằng, kết quả khác thường này chỉ ra sự tồn tại của một "đối hạt", hay "phản hạt" của electron, chúng hình thành nên một "cặp ma quỷ". Trên thực tế, ông quả quyết rằng mọi hạt đều có "đối hạt" của nó, cùng với những tính chất tương đồng, duy chỉ có sự đối lập về mặt điện tích. Và giống như proton, neutron và electron hình thành nên các nguyên tử và vật chất, các phản proton, phản neutron, positron (còn được gọi là phản electron) hình thành nên phản nguyên tử và phản vật chất. Nghiên cứu của ông dẫn đến một suy đoán rằng có thể tồn tại một vũ trụ ảo tạo bởi các phản vật chất này.
Và dự đoán của ông đã được kiểm chứng trong thí nghiệm của Carl Anderson vào năm 1932, cả hai ông đều được giải Nobel cho thành tựu ấy.
Các nhà vật lý đã học được nhiều hơn về phản vật chất so với thời điểm của Anderson khám phá ra nó. Một trong những hiểu biết mang tính kịch bản đó là vật chất và phản vật chất kết hợp lại sẽ tạo ra một vụ nổ lớn. Giống như những cặp tình nhân gặp nhau trong ngày sau cùng vậy, vật chất và phản vật chất ngay lập tức hút nhau do có điện tích ngược nhau, và tự phá hủy nhau. Do sự tự huỷ tạo ra bức xạ, các nhà khoa học có thể sử dụng các thiết bị để đo "tàn dư" của những vụ va chạm này. Chưa có một thí nghiệm nào có khả năng dò ra được các phản thiên hà và sự trải rộng của phản vật chất trong vũ trụ như trong tưởng tượng của Dirac. Các nhà khoa học vẫn gửi các tín hiệu thăm dò để quan sát xem có tồn tại các phản thiên hà này hay không.
Nhưng câu hỏi vẫn làm bối rối các nhà vật lý cũng như những người có trí tưởng tượng cao đó là: phải chăng vật chất và phản vật chất tự hủy khi chúng tiếp xúc nhau. Tất cả các thuyết vật lý đều nói rằng khi vụ nổ lớn (Big Bang), đánh dấu sự hình thành ở 13,5 tỉ năm trước, vật chất và phản vật chất có số lượng bằng nhau. Vật chất và phản vật chất kết hợp lại, và tự hủy nhiều lần, cuối cùng chuyển sang năng lượng, được biết như dạng bức xạ phông vũ trụ. Các định luật của tự nhiên đòi hỏi vật chất và phản vật chất phải được tạo dưới dạng cặp. Nhưng một vài phần triệu giây sau vụ Nổ Lớn Big Bang, vật chất dường như nhiều hơn so với phản vật chất một chút, do đó cứ mỗi tỉ phản hạt thì lại có một tỉ + 1 hạt vật chất. Trong giây đầu hình thành vũ trụ, tất cả các phản vật chất bị phá hủy, để lại sau đó là dạng hạt vật chất. Hiện tại, các nhà vật lý vẫn chưa thể tạo ra được một cơ chế chính xác để mô tả quá trình "bất đối xứng" hay khác nhau giữa vật chất và phản vật chất để giải thích tại sao tất cả các vật chất đã không bị phá hủy. (Wikipedia)
Ngoài ra chúng ta còn nghe đến các định luật khác nhau về cực âm và dương trong các lý thuyết phổ thông về dòng điện hay âm và dương trong các hạt electron v...v...
Về triết học và tâm linh:
Trong tâm linh và triết học chúng ta luôn thấy sự vận động của âm dương trong mọi hình thái, có thể nói quy tắc của vạn vật xung quanh chúng ta từ vật chất cho đến phi vật chất đều không nằm ngoài âm dương, kể cả các lý thuyết karma cũng không nằm ngoài âm dương thái cực, khi có điều tốt ắt điều xấu sẽ được sinh ra, và từ điều xấu cũng sẽ có điều tốt được sinh ra. Chỉ khi có điều xấu và các tai họa chúng ta mới có thể nhận ra sự bình an và vui vẻ, và khi chìm đóng trong bình an và vui vẻ đó chúng ta vô tình tạo nên những điều xấu và tai họa cũng như biết sợ tai họa. Chúng ta có thể liên hệ với những câu truyện tôn giáo khác nhau như ngay đoạn đầu của kinh Sáng Thế “1.1 Ban đầu Chúa dựng nên trời và đất 1.3 Đức Chúa Trời phán rằng phải có sự sáng; thì có sự sáng 1.4 Đức Chúa thấy sáng là tốt lành bèn phân sáng ra thành tận cùng của tối” như vậy những ý thức về sự phân rẽ giữa các mảng đối lập đã có từ hàng ngàn năm trước, không chỉ vậy ngay trong kinh Phật chúng ta cũng dễ dàng nhận thấy ở một mẩu chuyện khi Đức Phật thấy một cụ già gảy đàn liên hỏi “tại sao cụ có thể gảy hay như vậy” và ông cụ đáp “dây đàn trùng quá sẽ không ra tiếng, dây đàn căng quá sẽ đứt” và từ đó Đức Phật hiểu ra con đường ngài phải đi.
Như vậy theo tâm linh mọi thứ đều có những sự đối xứng với nhau mà trong đó một số tôn giáo lớn ngoài những lời lẽ thông thường về việc khuyến khích con người làm điều tốt, nhưng ẩn chứa trong đó những mật mã của sự vô vi kiểm soát giữa âm và dương điều đó được tiết lộ trong đoạn trên ở câu chuyện của Đức Phật khi ngài hiểu ra rằng sự giác ngộ, và thoát khỏi mọi nỗi khổ chính là ở giữa cả âm và Dương, trong triết lý của Lão Tử cũng thường xuyên đề cập đến các giáo lý vô vi đững giữa vạn vật không quá bần hèn cũng không quá cao sang, cũng như kinh sáng thế cũng có đoạn “1.7 Ngài làm nên khoảng không, phân rẽ nước ở dưới khoảng không cách với nước ở trên khoảng không; thì có như vậy”, không chỉ có thể mà còn rất nhiều các luận thuyết các ở những hệ phái triết học tôn giáo khác nhau đều có nói đến rằng có một khoảng gì đó tồn tại ở giữa âm và Dương và đó là khoảng ngăn cách, điều hòa và điều phối. Trung Quốc cho rằng âm Dương hài hòa xoay chuyển vạn vật sẽ bội tăng, chính vì vậy nếu mọi sự luôn ở khoảng giữa tức là khoảng cách cân bằng nhất thì không điều gì là không thể kiểm soát, cũng như vậy cái gì có sinh thì tức là sẽ có diệt vì thế khoảng giữa là khoảng tốt nhất để trở nên trường tồn. Dù rằng nếu xét theo một cách logic thì do quy luật của âm Dương nên nếu có điều gì tốt thì ắt sẽ có điều xấu xuất hiện, quả thực như vậy “yêu và thù hận” “tốt và xấu” luôn luôn song hành bởi thế mà rất nhiều người thắc mắc tại sao chúa không giết quỷ luôn đi … Nhưng đâu ai biết rằng phải có quỷ mới có thiên thần, và phải có cái ác thì cái tốt mới tồn tại như hai mặt của một đồng xu nhưng tại sao các tri thức cổ lại khuyến khích làm việc tốt.. Bởi điều tốt đem đến một kết quả trường tồn và phát triển, trái ngược với điều tốt thì điều xấu mang lại sự hủy diệt và những điểm không hay, tuy nhiên các giáo lý cổ lại có một điều mà không ai để ý đó là, làm việc tốt với một tâm thái cân bằng, không tự mãn quá cao, không hạ mình quá thấp, nhờ vậy việc xấu sẽ không được sinh ra, bởi tâm là cội nguồn của mọi hành động, do tâm quá sang bất cứ một điều nào nên điều ngược lại sẽ không xuất hiện vì vậy những hành động thái quá sẽ không xuất hiện, giống như khi chúng ta làm một điều tốt nếu chúng ta tự mãn thái quá hoặc phân khích thái quá vậy hãy coi như đó là thái cực dương, do tự mãn và phấn khích thái quá bao nhiều thì khi đó có thể là một khoảng thời gian sau khi ta nhận ra những điều không tốt kẻ khác nói về mình thì thái cực âm về mặt thất vọng và sân giận bấy nhiêu sẽ được sinh ra vì thế họ có thể làm những điều tiêu cực cùng với cái vòng luẩn quẩn đó sẽ không bao giờ ổn định v..v.. Tuy vậy đó chri là một ví dụ, và còn rất nhiều các triết lý đỉnh cao khác, lẫn các pháp bí truyền của các tôn giáo, và những tín ngưỡng thần bí cổ thất truyền bấy lâu được giải thích chì bằng 2 thứ đơn giản là m và Dương, thậm chỉ quy luật vận hành của karma (nghiệp) cũng không nằm ngoài âm Dương bởi đó chính là âm và Dương. Vì vậy có rất nhiều cách giải thích, diễn giải khác nhau mà chúng ta không thể kể ra hết chỉ trong vài dòng được, chúng ta chỉ cần hiểu có rất nhiều hệ thống huyền bí được sinh ra, kể cả những quẻ kinh dịch, hay những triết học từ Đông sang Tây đều lấy rất nhiều nguồn cảm hứng từ thuyết âm Dương
II)Biểu tượng âm Dương (Thái cực đồ)
(Còn tiếp)
Click here to claim your Sponsored Listing.
Category
Contact the practice
Telephone
Website
Address
Hanoi
600000